TƯ LIỆU LỊCH SỬ MỞ RỘNG

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp 1945 – 1954:

Đình là nơi tập trung tổ chức lễ hội; là trung tâm sinh hoạt văn hóa, hành chính của dân làng. Nhưng khi có giặc ngoại xâm, đình là nơi hội tụ lòng dũng cảm, hun đúc chí căm thù, quy tụ sức mạnh và tình đoàn kết của làng xã.

Cuối năm 1945, các phong trào yêu nước chống Pháp trong thành phố nổi lên rầm rộ, trong đó, có phong trào “Thanh niên tiền phong” là mạnh mẽ nhất.

* “Thanh niên tiền phong” là một tổ chức Nhật đề ra để thu hút thanh niên Việt Nam theo Nhật chống Pháp. Ta đã lợi dụng danh nghĩa đó, đồng chí Phạm Ngọc Thạch đứng ra tổ chức thành một “phong trào thanh niên yêu nước” chống Pháp rầm rộ. Trước ngày khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám “Thanh niên tiền phong” công khai tuyên bố là “thành viên của Mặt trận Việt minh”.

Tại đình Phong Phú, đội “Thanh niên tiền phong” được thành lập gồm 16 người. Thanh niên tiền phong ở làng Phong Phú phát đã tuyên thệ và lấy máu ăn thề. Họ đã phát triển thành lực lượng du kích và sau đó là bộ đội. Đơn vị được biên chế thành Phân đội 44 do Nguyễn Văn Banh chỉ huy, thuộc Đại đội 15 do Thái Văn Lung chỉ huy. Thanh niên tiền phong cũng như bộ đội đều luyện tập tại đình và được hội đình cung cấp lương thực và vũ khí. Số vũ khí đầu tiên là: 02 khẩu súng lục và 01 khẩu súng trường (của Pháp), 01 súng Nga hoàng; còn có nhiều lựu đạn và mã tấu.

Trận đầu đánh địch, bộ đội địa phương làm lễ xuất quân tại đình Phong Phú. Trong trận đó, quân ta tiến đánh đồn Nhật thu được 05 súng trường.

Cuối năm 1946, đồng chí Đào Sơn Tây liên lạc với đồng chí Nguyễn Văn Banh đưa bộ đội huyện về đóng tại đình (gồm 1 Đại đội khoảng hơn 100 người).

Trong thời gian này, Hội đình gồm có: – Ông Nguyễn Thành Nhơn.

– Ông Lê Hề.

– Ông Trương Văn Tập.

Ông Nguyễn Thành Nhơn làm Hội trưởng Hội đình; vừa làm Chủ tịch Uỷ ban Hành chính kháng chiến xã Tăng Nhơn phú. Ở đây, ta thấy có sự kết hợp hết sức chặt chẽ. Người tổ chức việc lễ hội cúng bái thành hoàng cũng là người đứng đầu tổ chức kháng chiến chống giặc ngoại xâm của xã. Hai công việc tưởng như không có gì liên quan nhưng thực ra có cùng một mục đích là đem lại thái bình, diệt họa trừ tà cho dân làng. Vì vậy, dân làng Phong Phú một lòng thờ thần, một lòng theo kháng chiến.

Đình Phong Phú đã chứng kiến khí thế cách mạng hừng hực của thanh niên tiền phong, đã chứng kiến buổi lễ xuất quân đầu tiên của bộ đội địa phương. Đình Phong Phú còn là nơi ghi sâu tội ác dã man của thực dân Pháp.

Năm 1946, thực dân Pháp đã gây ra một vụ thảm sát trước cổng đình Phong Phú. Diễn biến cuộc thảm sát như sau:

Tháng 5/1946, Ủy ban kháng chiến xã Tăng Nhơn Phú đề nghị lực lượng vũ trang (Đại đội 15, Chi hội 6 và quân dân địa phương) tiêu diệt tên “Ách râu” ở Bót Dây Thép. Tên này (còn có biệt danh “Tây điên”) thường chặt đầu những người nó nghi là Việt minh. Ngày 14/6/1946, bộ đội ta đã phục kích trên đường đi Thủ Đức, cách bót Dây Thép khoảng 1.500m đã hạ sát được một tên “Tây râu”. Nhưng, tên này (tên lính nấu bếp ở Bót Long Thạnh Mỹ đi chợ Thủ Đức) không phải là người mà xã đề nghị. Để trả thù, giặc Pháp bắt một số người nhốt ở Bót Dây Thép 01 ngày. Hôm sau, chúng áp giải họ về trước cổng đình Phong Phú và bắn tất cả tại đây (* Liên hệ: Cuộc thảm sát Rừng chồi của DT LS-Vh cấp quốc gia bót dây thép).

Chúng bắn hai lần: Lần thứ nhất 24 người và lần thứ hai 19 người. Hành động dã man của thực dân Pháp khiến cho nhân dân ta vô cùng căm phẫn.

Thường khi gặp tai họa trong cuộc sống, dân làng Phong Phú sẽ xin Thành hoàng che chở cho họ, trừng trị kẻ ác (Những kẻ đã ngang nhiên gây tội ác trước mặt thần, không vị nể ngài). Tuy nhiên, dân làng Phong Phú không chỉ biết cúi xin khẩn cầu Thành hoàng, mà họ đã hành động thiết thực để chống lại bọn xâm lược.

Toàn bộ Hội đình đều theo kháng chiến: Đem tiền gạo ủng hộ bộ đội, nuôi du kích; thanh niên trong làng lớp lớp tòng quân giết giặc.

Năm 1948, thực hiện chủ trương “tiên thổ kháng chiến”, dân làng Phong Phú đã chuyển tượng thần về chùa Thanh Long. Tạm thời để thần nương nhờ bên cửa Phật, dân làng se thắt tim mình, khi đã phải tự tay mình phá bỏ ngôi đình thành đống gạch vụn, quyết không để cho giặc vấy bẩn vào nơi tôn nghiêm này. Ngôi đình đối với dân làng là hết sức thiêng liêng. Do đó, hành động “phá đình” là sự hy sinh vô cùng lớn lao góp phần vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân làng Phong Phú.

Năm 1952, đình Phong Phú được khôi phục lại. Từ đây, đình Phong Phú và dân tiếp tục tích cực đóng góp cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, góp phần không nhỏ trong việc đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

b. Thời kỳ chống đế quốc Mỹ 1954 – 1975:

Thực dân Pháp thua đau ở Điện Biên Phủ, rút khỏi nước ta, dân tộc ta lại phải đương đầu với một kẻ thù khác, tàn bạo hơn, giàu mạnh hơn, đó là đế quốc Mỹ. Hội đình Phong Phú lại tiếp tục con đường ủng hộ cho cuộc kháng chiến chống xâm lược.

Đình trở thành “trụ sở” của xã: Cán bộ cách mạng xã trước khi đi công tác các nơi đều tập trung tại đình. Sau khi công tác xong cũng trở về đình trao đổi kinh nghiệm. Cán bộ trên huyện, khu hay xã khác đi công tác qua cũng ghé đình nghỉ đêm. Có thể nói đây là “trạm” tương đối an toàn cho cán bộ cách mạng. Có những lúc, cán bộ tập trung tại đây có khi lên tới 200 người (gồm các ban ngành, cấp bộ khác nhau), họ nằm khắp nơi trên sân đình.

Tại sao đình Phong Phú lại trở thành “trạm” nghỉ đêm tương đối an toàn của cán bộ cách mạng, phải chăng vị Thành hoàng đã che chở cho họ. Thực ra để giải thích điều đó có một số lý do:

Một là, dân sống quanh đình, gia đình nào cũng có con em theo cách mạng. Bảo vệ cách mạng là bảo vệ chính con em ruột thịt của mình. Do đó, họ một lòng một dạ với cách mạng, một vành đai bảo vệ tự nhiên được hình thành quanh đình, cán bộ cách mạng yên tâm nghỉ đêm trong đình. Có giặc dân sẽ báo, khi có giặc phục dân trong đình, dân sẽ đốt đèn hoặc đốt nguyên một bó nhang trên bàn thiên (Bàn thờ ngoài trời) để thông báo về tình hình địch.

Hai là, cơ sở cách mạng của xã Tăng Nhơn Phú mạnh. Ban đêm, xã gần như do cách mạng kiểm soát, nên cán bộ đi lại tương đối tự do.

Về phía địch: Một số ngụy quân rất ngại lục soát đình. Đình có tiếng linh thiêng, đụng đến đình sợ thần quở phạt. Các cụ kể lại rằng: Có một tên thiếu tá ngụy sau khi cúng thần về bị ta phục kích, nhưng hắn sống sót. Được thoát thân, hắn nghĩ ngay là do Thành hoàng che chở.Từ đó, hắn ra lệnh cho lính không được đụng đến đình.

Đình Phong Phú là nơi tập trung và trú quân. Đây còn là nơi cung cấp tiền gạo, dầu hôi, thuốc men cho cán bộ cách mạng.

Có một hình ảnh hết sức cảm động, thể hiện tình cảm của nhân dân đối với cách mạng. Đó là hình ảnh ông Từ giữ đình đã mù hai mắt. Đêm đêm ông vẫn thức đợi cán bộ cách mạng về để trao tận tay từng bao gạo trắng, từng can dầu đầy. Đó là ông là Huỳnh Văn Chớ, người được Hội đình tin tưởng trao cho công việc ấy. Bọn giặc không ngờ cả đến ông Từ mù cũng theo cách mạng, khi bọn giặc bắt tất cả các cụ trong hội đình chúng đã chừa ông Từ mù lại.

Những khi tình hình chiến sự căng thẳng, tài chính khó khăn, cán bộ cách mạng xã-huyện đều trông chờ vào sự đùm bọc của Hội đình. Tiền của dân cúng đình, Hội đình đã đóng góp phần lớn cho cách mạng. Khi hỏi về số lượng cụ thể, các cụ không nhớ rõ. Lúc đó tính toán số lượng mà làm gì, cách mạng cần, Hội đình đã đóng góp liên tục và hết sức mình. Tuy nhiên biên nhận của cách mạng các cụ vẫn còn giữ, các cụ bỏ vào hũ, chôn dưới đất như kỷ vật. Mối mọt của thời gian đã gặm nhắm những tờ biên nhận, (đến nay chỉ còn lại 23 tờ, thời điểm lập hồ sơ di tích).

Vị Thành hoàng xưa kia đã có công khai phá đất đai, che chở cho dân lành, thì cán bộ ra sức đánh đuổi giặc ngoại xâm đem lại hòa bình độc lập cho dân tộc. Thấu hiểu điều đó, các cụ trong hội đình không hề tiếc công tiếc của. Các cụ đã thay mặt cho dân làng đóng góp cho cách mạng. Sự đóng góp đó không chỉ đơn thuần là kinh tế mà đây thực sự là cuộc đấu tranh gay go, ác liệt, có khi nguy hiểm cả đến tính mạng.

Đoán biết được Hội đình có liên quan đến cách mạng, năm 1960 ngụy quyền bắt các cụ trong Hội đình, gồm có:

– Cụ Nguyễn Thành Nhơn – Hội trưởng

– Cụ Trương Văn Tập – Kiểm soát viên

– Cụ Trương Minh Thu – Thư ký phụ trách tài chánh

– Phan Văn Dùng – Hội viên

– Nguyễn Văn Trinh – Hội viên

Chúng tra tấn các cụ bằng nhiều hình thức nhằm khai thác cơ sở hoạt động cách mạng. Các cụ quyết không khai, chúng đã giam giữ các cụ mỗi người từ 01 đến 02 năm tù (Đây không phải lần đầu tiên các cụ bị bắt. Năm 1950, cũng những cụ này đã bị bắt về tội là “cơ sở cách mạng”)

Ra tù các cụ lại tiếp tục con đường của mình đã đi, ủng hộ cách mạng. Hội đình bị theo dõi ráo riết. Chúng gọi Hội đình là “Hội Cộng sản” và cho trưởng ấp theo dõi sát. Chúng khóa thùng đựng tiền, niêm phong và giữ chìa khóa. Hồi lần chúng đến lấy tiền đều có 1 tiểu đội lính đi bảo vệ. Chúng đổ tiền vào bao bố (bao tải) mang về. Các cụ trong hội đình đâu chịu khoanh tay ngồi nhìn sự o ép của ngụy quyền. Các cụ tìm cách làm thêm chìa khóa, làm thêm giấy niêm phong. Đêm đêm các cụ mở tủ và lấy bớt một số tiền. Bọn ngụy quyền không hề hay biết, trong hoàn cảnh khó khăn như vậy, cán bộ cách mạng vẫn nhận được sự đóng góp đều đặn của Hội đình.

Năm 1973, tình hình cách mạng có nhiều chuyển biến tích cực. Các cụ Hội đình đã liên hệ với ông Hội đồng Thu là Ủy viên kinh tài Tỉnh trưởng Gia Định, nhờ ông này can thiệp với Châu Văn Tiên – Tỉnh trưởng Gia Định. Châu Văn Tiên đã ký Quyết định buộc hội tề xã phải trả tự do cho Hội đình Phong Phú.

Sau khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ đã hoàn toàn thắng lợi, đến thăm đình, chúng ta sẽ được nhìn thấy những vị trí bí mật đã từng nuôi dấu cán bộ cách mạng. Đó là: Hầm bí mật từ trong đình ăn thông ra vườn cao su; hay vị trí bí mật dưới hòn non bộ hoặc trong chánh điện.

Đặc biệt, các cụ trong hội đình đã dành riêng một phòng bên trái đình làm Phòng truyền thống: Ghi danh các liệt sĩ của (ấp) Phong Phú qua hai thời kỳ gồm: 48 người hy sinh trong thời kháng chiến chống Pháp, 84 người hy sinh trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Ngoài ra, còn có hình ảnh của:

– Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Bá: Người đã từng hoạt động nhiều tại ấp Phong Phú. Anh Nguyễn Văn Bá là xã đội trưởng rồi Huyện đội trưởng; cũng là cháu gọi ông Nguyễn Thành Nhơn – Hội trưởng đình là bác ruột.

– Đại tá Nguyễn Văn Hiển: Người đã từng là thanh niên tiền phong của ấp Phong Phú năm xưa, là con của ông Nguyễn Thành Nhơn.

– (Đại tá) AH. LLVTND Nguyễn Văn Tăng: Là cháu gọi ông Nguyễn Thành Nhơn là bác ruột.

Có thể nói, gia đình ông Nguyễn Thành Nhơn là một gia đình điển hình ở xã Tăng Nhơn Phú (Nay thuộc P. Tăng Nhơn Phú B). Cha làm Hội trưởng Hội đình suốt hai thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ. Các con cháu đều theo cách mạng và có những cống hiến xuất sắc.

Trong phòng truyền thống còn có hình ảnh các cụ trong Hội đình, là những người đã trụ vững tại đây trong những năm kháng chiến gian khổ.

Nếu có hỏi người dân xã Tăng Nhơn Phú về đình Phong Phú, họ sẽ nói một cách hết sức tôn kính và tự hào rằng: Ngôi đình ấy linh thiêng lắm; Ngôi đình ấy truyền thống lắm.

Không biết từ bao giờ người dân Nam bộ quen gọi “những nơi có liên quan đến cách mạng” là “Truyền thống”. (Thí dụ: “Đình truyền thống”, “ Chùa truyền thống”, “Nhà truyền thống”, từ “ truyền thống ở đây có thể hiểu đồng nghĩa với từ “cách mạng”).

Ngày 20/10/1976, xã Tăng Nhơn Phú được Hội đồng Chính phủ tặng danh hiệu Anh hùng, vì có thành tích xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Trong niềm vinh dự ấy, quân và dân xã Tăng Nhơn Phú không quên những đóng góp của đình Phong Phú. Một ngôi đình linh thiêng giữ gìn được nề nếp cổ truyền ằ trong một xã Anh hùng, hai yếu tố đó có sự liên quan chặt chẽ không thể tách rời.