Đình chính đình Phong Phú- TP Thủ Đức, ảnh chụp 2025
( Nguồn : nhóm nghiên cứu trường THPT Nguyễn Văn Tăng)

Lịch sử hình thành Đình Phong Phú

 

Đình Phong Phú là di tích lịch sử quốc gia mang đậm giá trị về tín ngưỡng văn hóa gắn liền với quá trình hình thành và phát triển của làng Phong Phú. Có hơn 200 năm bề dày lịch sử, chứng kiến sự đổi thay của thời gian, sự khốc liệt của một thời chiến tranh đã qua cùng biết bao thế hệ gìn giữ và bảo tồn. Tới nay, đình vẫn duy trì hoạt đồng thờ phụng, cúng bái đồng thời tổ chức các lễ hội văn hóa đặc sắc thu hút người dân ghé thăm thường xuyên.

 

Toàn cảnh Đình Phong Phú
(Nguồn ảnh: Báo Phụ Nữ)

Toàn cảnh Đình Phong Phú
(Nguồn ảnh: Báo vnexpress)

Đình Phong Phú phía trên cao
(Nguồn ảnh: Báo Phụ Nữ)

Các giai đoạn hình thành và phát triển
Đình Phong Phú

Trước 1945

Giai đoạn hình thành ban đầu

Theo các tư liệu hiện còn, Đình Phong Phú đã tồn tại và phát triển hơn 200 năm, gắn liền với quá trình cư dân đến khai phá và ổn định cuộc sống tại vùng đất Phong Phú. Ở giai đoạn đầu, đình được xây dựng với quy mô đơn sơ, các hoạt động sinh hoạt hội đình chưa mang tính tổ chức chặt chẽ.

Nhận được sự đồng thuận của Chánh tham biện Pháp và Tỉnh trưởng Gia Kỳ ấn ký năm 1937, khi 12 vị bô lão tại địa phương đứng ra làm đơn xin thành lập hội đình với tên gọi “Tương, Lân, Quý, Tế – Hội Đình Phong Phú”. Từ đây, hội đình chính thức đi vào hoạt động nề nếp, vận động nhân dân tu sửa ngôi đình ngày càng tươm tất, khang trang hơn, thu hút khách thập phương đến cúng bái.

1945 – 1954

Trong thời kỳ kháng chiến chống thực dân Pháp

Cuối năm 1945, các phong trào yêu nước chống Pháp trong thành phố nổi lên rầm rộ, trong đó, có phong trào “Thanh niên tiền phong” là mạnh mẽ nhất.

Tại đình Phong Phú, đội “Thanh niên tiền phong” được thành lập gồm 16 người. Thanh niên tiền phong ở làng Phong Phú phát đã tuyên thệ và lấy máu ăn thề. Họ đã phát triển thành lực lượng du kích và sau đó là bộ đội. Đơn vị được biên chế thành Phân đội 44 do Nguyễn Văn Banh chỉ huy, thuộc Đại đội 15 do Thái Văn Lung chỉ huy. Thanh niên tiền phong cũng như bộ đội đều luyện tập tại đình và được hội đình cung cấp lương thực và vũ khí. Số vũ khí đầu tiên là: 02 khẩu súng lục và 01 khẩu súng trường (của Pháp), 01 súng Nga hoàng; còn có nhiều lựu đạn và mã tấu.

Trong thời gian này, Ông Nguyễn Thành Nhơn làm Hội trưởng Hội đình; vừa làm Chủ tịch Uỷ ban Hành chính kháng chiến xã Tăng Nhơn phú. Ở đây, ta thấy có sự kết hợp hết sức chặt chẽ. Người tổ chức việc lễ hội cúng bái thành hoàng cũng là người đứng đầu tổ chức kháng chiến chống giặc ngoại xâm của xã.

Đình Phong Phú đã chứng kiến khí thế cách mạng hừng hực của thanh niên tiền phong, đã chứng kiến buổi lễ xuất quân đầu tiên của bộ đội địa phương. Đình Phong Phú còn là nơi ghi sâu tội ác dã man của thực dân Pháp.

Chúng bắn hai lần: Lần thứ nhất 24 người và lần thứ hai 19 người. Hành động dã man của thực dân Pháp khiến cho nhân dân ta vô cùng căm phẫn.

Năm 1948, thực hiện chủ trương “tiêu thổ kháng chiến”, dân làng Phong Phú đã chuyển tượng thần về chùa Thanh Long. Tạm thời để thần nương nhờ bên cửa Phật, dân làng se thắt tim mình, khi đã phải tự tay mình phá bỏ ngôi đình thành đống gạch vụn, quyết không để cho giặc vấy bẩn vào nơi tôn nghiêm này. Do đó, hành động “phá đình” là sự hy sinh vô cùng lớn lao góp phần vào cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp của dân làng Phong Phú.

Năm 1952, đình Phong Phú được khôi phục lại. Từ đây, đình Phong Phú và dân tiếp tục tích cực đóng góp cho cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp, góp phần không nhỏ trong việc đưa cuộc kháng chiến đến thắng lợi hoàn toàn.

1954 – 1975

Thời kỳ chống đế quốc Mỹ

Thực dân Pháp thua đau ở Điện Biên Phủ, rút khỏi nước ta, dân tộc ta lại phải đương đầu với một kẻ thù khác, tàn bạo hơn, giàu mạnh hơn, đó là đế quốc Mỹ. Hội đình Phong Phú lại tiếp tục con đường ủng hộ cho cuộc kháng chiến chống xâm lược.

Đình trở thành “trụ sở” của xã: Cán bộ cách mạng xã trước khi đi công tác các nơi đều tập trung tại đình. Sau khi công tác xong cũng trở về đình trao đổi kinh nghiệm. Cán bộ trên huyện, khu hay xã khác đi công tác qua cũng ghé đình nghỉ đêm. Có thể nói đây là “trạm” tương đối an toàn cho cán bộ cách mạng. Có những lúc, cán bộ tập trung tại đây có khi lên tới 200 người (gồm các ban ngành, cấp bộ khác nhau), họ nằm khắp nơi trên sân đình. Đình Phong Phú còn là nơi tập trung và trú quân, là nơi cung cấp tiền gạo, dầu hôi, thuốc men cho cán bộ cách mạng. Những khi tình hình chiến sự căng thẳng, tài chính khó khăn, cán bộ cách mạng xã-huyện đều trông chờ vào sự đùm bọc của Hội đình. Tiền của dân cúng đình, Hội đình đã đóng góp phần lớn cho cách mạng. Sự đóng góp đó không chỉ đơn thuần là kinh tế mà đây thực sự là cuộc đấu tranh gay go, ác liệt, có khi nguy hiểm cả đến tính mạng.

Đoán biết được Hội đình có liên quan đến cách mạng, năm 1960 ngụy quyền bắt các cụ trong Hội đình, gồm có:

– Cụ Nguyễn Thành Nhơn – Hội trưởng

– Cụ Trương Văn Tập – Kiểm soát viên

– Cụ Trương Minh Thu – Thư ký phụ trách tài chánh

– Phan Văn Dùng – Hội viên

– Nguyễn Văn Trinh – Hội viên

Chúng tra tấn các cụ bằng nhiều hình thức nhằm khai thác cơ sở hoạt động cách mạng. Các cụ quyết không khai, chúng đã giam giữ các cụ mỗi người từ 01 đến 02 năm tù (Đây không phải lần đầu tiên các cụ bị bắt. Năm 1950, cũng những cụ này đã bị bắt về tội là “cơ sở cách mạng”)

Trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, Đình Phong Phú là điểm tập trung lực lượng, từ đó xuất phát tấn công vào các khu vực trọng yếu như Sài Gòn, Chợ Lớn và một số mục tiêu quan trọng khác. Sau các đợt đàn áp quy mô lớn, đối phương đã sử dụng máy bay, xe tăng và vũ khí hạng nặng, phá hủy nhiều cây cổ thụ trong khuôn viên đình và gây hư hại nghiêm trọng cho công trình. Tuy nhiên, tượng thần tại chánh điện vẫn còn nguyên vẹn, càng củng cố niềm tin và sự tôn kính của nhân dân đối với đình.

Năm 1973, tình hình cách mạng có nhiều chuyển biến tích cực. Các cụ Hội đình đã liên hệ với ông Hội đồng Thu là Ủy viên kinh tài Tỉnh trưởng Gia Định, nhờ ông này can thiệp với Châu Văn Tiên – Tỉnh trưởng Gia Định. Châu Văn Tiên đã ký Quyết định buộc hội tề xã phải trả tự do cho Hội đình Phong Phú.

Sau khi cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ đã hoàn toàn thắng lợi, đến thăm đình, chúng ta sẽ được nhìn thấy những vị trí bí mật đã từng nuôi dấu cán bộ cách mạng. Đó là: Hầm bí mật từ trong đình ăn thông ra vườn cao su; hay vị trí bí mật dưới hòn non bộ hoặc trong chánh điện.

Đặc biệt, các cụ trong hội đình đã dành riêng một phòng bên trái đình làm Phòng truyền thống: Ghi danh các liệt sĩ của (ấp) Phong Phú qua hai thời kỳ gồm: 48 người hy sinh trong thời kháng chiến chống Pháp, 84 người hy sinh trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ. Ngoài ra, còn có hình ảnh của:

– Anh hùng liệt sĩ Nguyễn Văn Bá: Người đã từng hoạt động nhiều tại ấp Phong Phú. Anh Nguyễn Văn Bá là xã đội trưởng rồi Huyện đội trưởng; cũng là cháu gọi ông Nguyễn Thành Nhơn – Hội trưởng đình là bác ruột.

– Đại tá Nguyễn Văn Hiển: Người đã từng là thanh niên tiền phong của ấp Phong Phú năm xưa, là con của ông Nguyễn Thành Nhơn.

– (Đại tá) AH. LLVTND Nguyễn Văn Tăng: Là cháu gọi ông Nguyễn Thành Nhơn là bác ruột.

Có thể nói, gia đình ông Nguyễn Thành Nhơn là một gia đình điển hình ở xã Tăng Nhơn Phú (Nay thuộc P. Tăg Nhơn Phú B). Cha làm Hội trưởng Hội đình suốt hai thời kỳ chống Pháp và chống Mỹ. Các con cháu đều theo cách mạng và có những cống hiến xuất sắc.

Ngày 20/10/1976, xã Tăng Nhơn Phú được Hội đồng Chính phủ tặng danh hiệu Anh hùng, vì có thành tích xuất sắc trong cuộc kháng chiến chống đế quốc Mỹ. Trong niềm vinh dự ấy, quân và dân xã Tăng Nhơn Phú không quên những đóng góp của đình Phong Phú. Một ngôi đình linh thiêng giữ gìn được nề nếp cổ truyền ằ trong một xã Anh hùng, hai yếu tố đó có sự liên quan chặt chẽ không thể tách rời.

Hầm bí mật Đình Phong Phú – TP Thủ Đức

Hầm bí mật Đình Phong Phú – TP Thủ Đức, ảnh chụp 2025
(Nguồn: Nhóm nghiên cứu Trường THPT Nguyễn Văn Tăng)

Trước 1945

Giai đoạn hình thành ban đầu

Theo các tư liệu hiện còn, Đình Phong Phú đã tồn tại và phát triển hơn 200 năm, gắn liền với quá trình cư dân đến khai phá và ổn định cuộc sống tại vùng đất Phong Phú. Ở giai đoạn đầu, đình được xây dựng với quy mô đơn sơ, các hoạt động sinh hoạt hội đình chưa mang tính tổ chức chặt chẽ.

Nhận được sự đồng thuận của Chánh tham biện Pháp và Tỉnh trưởng Gia Kỳ ấn ký năm 1937, khi 12 vị bô lão tại địa phương đứng ra làm đơn xin thành lập hội đình với tên gọi “Tương, Lân, Quý, Tế – Hội Đình Phong Phú”. Từ đây, hội đình chính thức đi vào hoạt động nề nếp, vận động nhân dân tu sửa ngôi đình ngày càng tươm tất, khang trang hơn, thu hút khách thập phương đến cúng bái.

1945 – 1960

Giai đoạn gián đoạn và khôi phục

Năm 1938, thực dân Pháp có chủ trương chiếm dụng đình, chùa làm đồn bót nhằm đàn áp phong trào yêu nước của nhân dân. Trước tình hình đó, hội đình buộc phải tạm thời giải thể, rước tượng thần về chùa Thanh Long để an vị. Do việc di dời vội vã, gấp rút dẫn đến nhiều tư liệu quý của đình bị thất lạc, công trình đình cũng bị hư hại nặng, chỉ còn lại nền móng và gạch vụn.

Đến năm 1952, khi tình hình tương đối ổn định, các vị cao niên trong hội đình đã làm đơn xin khôi phục lại đình tại vị trí cũ, đồng thời tiến hành sửa sang lại kiến trúc cho phù hợp với quy mô một đình làng truyền thống. Tượng ông cũng được thỉnh về an vị trở lại trong tín ngưỡng của nhân dân địa phương.

Trong giai đoạn này, hội đình còn tích cực tham gia đóng góp sức người, sức của cho phong trào đấu tranh giải phóng dân tộc. Năm 1960, chính quyền đương thời tiến hành bắt giữ 5 vị trong ban hội đình vì tình nghi có liên quan đến hoạt động cách mạng, gồm:

  • Nguyễn Thành Nhơn – Hội trưởng
  • Trương Văn Tập – Kiểm soát viên
  • Trương Minh Thu – Thư ký kiêm Thủ bổn
  • Nguyễn Văn Trinh – Hội viên
  • Phan Văn Dũng – Hội viên

Họ bị giải về giao về quận Thủ Đức. Để khai thác cơ sở hoạt động cách mạng, chúng dùng nhiều thủ đoạn tra tấn nhưng đều thất bại, vì sự an toàn của tổ chức, cụ Nguyễn Thành Nhơn đã dùng dao tự sát trước kẻ thù. Những cụ còn lại phải chịu cảnh tù đày từ 1 đến 2 năm. Khi được tự do, họ lại tiếp tục hoạt động, bị dịch gán hội đình là “Hội Cộng Sản”. Đồng thời cho trưởng ấp Ngọc giám sát nhằm nắm bắt các hoạt động của hội.

1960 – 1975

Duy trì trong hoàn cảnh chiến tranh

Từ năm 1960 đến năm 1975, Đình Phong Phú tồn tại trong bối cảnh chiến tranh ác liệt và chịu sự kiểm soát nghiêm ngặt của chính quyền đương thời. Theo các tư liệu ghi nhận, đình là một trong những cơ sở tiếp tế lương thực và là nơi tập trung lực lượng quan trọng của cách mạng tại khu vực Thủ Đức. Nhiều hầm bí mật được xây dựng trong khuôn viên đình nhằm che giấu cán bộ và vận chuyển nhu yếu phẩm.

Trong đợt Tổng tiến công và nổi dậy Tết Mậu Thân năm 1968, Đình Phong Phú là điểm tập trung lực lượng, từ đó xuất phát tấn công vào các khu vực trọng yếu như Sài Gòn, Chợ Lớn và một số mục tiêu quan trọng khác. Sau các đợt đàn áp quy mô lớn, đối phương đã sử dụng máy bay, xe tăng và vũ khí hạng nặng, phá hủy nhiều cây cổ thụ trong khuôn viên đình và gây hư hại nghiêm trọng cho công trình. Tuy nhiên, tượng thần tại chánh điện vẫn còn nguyên vẹn, càng củng cố niềm tin và sự tôn kính của nhân dân đối với đình.

Năm Quý Sửu (1973), chính quyền xã Tăng Nhơn Phú tiếp tục đàn áp hội đình với cáo buộc tiếp tế cho cách mạng. Hội đình bị buộc giao nộp và niêm phong tài sản, đồng thời bị giám sát chặt chẽ bởi lực lượng vũ trang. Dù vậy, với tinh thần kiên định và sự mưu trí, hội đình vẫn âm thầm duy trì hoạt động hỗ trợ cách mạng. Đầu năm 1975, hội đình đã đóng góp 50.000 đồng để hỗ trợ bộ đội đón Tết cùng nhiều khoản đóng góp khẩn cấp khác, có biên nhận và được lưu giữ tại địa phương.

Hầm bí mật Đình Phong Phú – TP Thủ Đức

Hầm bí mật Đình Phong Phú – TP Thủ Đức, ảnh chụp 2025
(Nguồn: Nhóm nghiên cứu Trường THPT Nguyễn Văn Tăng)